Cá Tuyết

Cá Tuyết

Thông thường có râu. Kích thước dài tối đa là gần 2 m ở cá tuyết Đại Tây Dương. Phần lớn các loài là sinh vật sống đáy (ăn chìm), chủ yếu ăn các loại cá nhỏ và động vật không có xương sống. Một vài loài thích sống thành bầy và có khả năng di cư xa.

– Cá tuyết Đại Tây Dương (danh pháp hai phần: Gadus morhua) là một loài cá tuyết ăn tầng đáy thuộc Họ Cá tuyết. Loài này sinh sống ở Đại Tây Dương. Ở Đại Tây Dương phía Tây Dương,

– Cá tuyết có một phân phối phía Bắc của Cape Hatteras, Bắc Carolina, và ở cả hai bờ biển Greenland, ở phía đông Đại Tây Dương, nó được tìm thấy từ vịnh Biscay ở phía bắc của Bắc Băng Dương, bao gồm cả vùng biển Baltic, Biển Bắc, Biển Hebrides, các khu vực xung quanh Iceland và biển Barents.

– Nó có thể phát triển đến chiều dài 2 mét và nặng tới 96 kg (210 lb). Nó có thể sống 25 năm và thành thục sinh dục nói chung đạt được giữa hai và bốn tuổi, nhưng có thể là vào cuối tám năm ở Bắc Cực phía đông bắc.

– Nó có màu nâu đến màu xanh lá cây, với các điểm ở phía bên lưng, bóng bạc bên bụng. Một đường bên rõ ràng nhìn thấy được. Môi trường sống của nó phạm vi từ bờ biển xuống thềm lục địa.

– Họ Cá tuyết (danh pháp khoa học: Gadidae) là một họ cá biển, thuộc về bộ Cá tuyết (Gadiformes). Nó bao gồm khoảng 12 chi với 22-24 loài cá tuyết, cá êfin, whiting và cá pôlăc (cá minh thái).

– Một vài dạng cá khác đã từng có thời được đưa vào họ này, nhưng đã bị loại ra để chuyển sang các họ khác; ngược lại, họ Ranicipitidae hiện nay chỉ được coi là một phần của họ Gadidae (với một loài duy nhất là Raniceps raninus).

– Khu vực phân bổ của họ này là các đại dương như Bắc Băng Dương, miền bắc Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, trong các vùng nước ven Bắc cực và ôn đới. Họ này đứng thứ hai sau họ Cá trích (Clupeidae) về sản lượng cá biển bị đánh bắt trên toàn thế giới.

– Các loài cá trong họ này có 3 vây lưng và 2 vây hậu môn, vây lưng thứ nhất ngay phía sau đầu. Các vây không có gai. Các xương chậu phía trước vây ức. Răng có trên xương lá mía.